Table of contents [Show]
Điểm nghẽn logistics vẫn là khả năng kết nối và tổ chức khai thác

Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 770,14 tỷ USD trong 8 tháng năm 2026, tăng 28,7% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, chi phí logistics vẫn ở mức tương đương 16–17% GDP, đặt ra yêu cầu tăng cường kết nối hạ tầng, phát triển vận tải đa phương thức và nâng cao hiệu quả khai thác chuỗi cung ứng.
Chi phí logistics tiếp tục tạo áp lực cho doanh nghiệp
Theo Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong 8 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4%; nhập khẩu đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3%.
Đáng chú ý, 94,1% kim ngạch nhập khẩu là nhóm tư liệu sản xuất, trong khi hàng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 90,2% kim ngạch xuất khẩu. Điều này cho thấy nhu cầu vận tải, kho bãi, cảng biển và các dịch vụ logistics tiếp tục tăng cùng với hoạt động sản xuất, thương mại.
Theo Bộ Công Thương, dẫn Báo cáo Logistics Việt Nam 2025, chi phí logistics của Việt Nam tương đương khoảng 16–17% GDP. Đây là chỉ tiêu ở cấp độ nền kinh tế, không phải tỷ lệ chi phí áp dụng chung cho mọi ngành hàng hay từng doanh nghiệp.
Theo Quyết định số 2229/QĐ-TTg ngày 9/10/2025, Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu đến năm 2035 giảm chi phí logistics so với GDP xuống mức tương đương 12–15%, đồng thời nâng tỷ lệ doanh nghiệp thuê ngoài dịch vụ logistics lên 70–80%.
Trên thực tế, chi phí logistics không chỉ bao gồm cước vận chuyển mà còn có chi phí kho bãi, lưu container, tồn kho, thủ tục, chứng từ và thời gian chờ. Những khoản phát sinh này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành sản phẩm và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Tăng kết nối, phát triển vận tải đa phương thức
Theo TS. Bùi Bá Nghiêm, chuyên viên cao cấp Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), điểm nghẽn lớn của logistics hiện nay là khả năng kết nối và tổ chức khai thác. Hạ tầng cần được nhìn nhận như một hệ thống liên kết, thay vì những công trình riêng lẻ.
Thực tế, một số trung tâm logistics chưa kết nối hiệu quả với khu công nghiệp, vùng sản xuất, nguồn hàng hoặc cảng biển. Hàng hóa vẫn phải vận chuyển bằng đường bộ trên những chặng có thể kết hợp đường sắt, đường thủy hoặc các phương thức khác, làm tăng chi phí và giảm hiệu quả khai thác.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Ngọc Khánh, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ Logistics Việt Nam, Tổng giám đốc Công ty cổ phần OPL Logistics, cho biết đường bộ đang chiếm khoảng 80–90% tổng chi phí vận tải được doanh nghiệp triển khai, trong khi đường sắt, đường biển và đường thủy nội địa chưa được khai thác tương xứng.
Tình trạng này cũng thể hiện ở từng ngành hàng. Chi phí logistics nội địa từ nhà máy đến cảng hiện chiếm khoảng 9–10% đối với ngành dệt may, trong khi biên lợi nhuận của ngành chỉ khoảng 3–5%. Với ngành lương thực, việc thiếu cảng chuyên dụng nước sâu tại Đồng bằng sông Cửu Long khiến một phần hàng gạo phải vận chuyển lên TP. Hồ Chí Minh, phát sinh thêm chi phí.
Để cải thiện hiệu quả, việc quy hoạch hạ tầng cần xuất phát từ nhu cầu thực tế và dòng lưu chuyển hàng hóa, xác định rõ nguồn hàng, tuyến vận chuyển, phương thức kết nối và điểm đến. Các trung tâm logistics cũng cần được phân định chức năng theo lợi thế từng khu vực, tăng cường bổ trợ thay vì đầu tư những mô hình tương tự nhau.
Cùng với đó, cần phát triển vận tải đa phương thức theo đặc điểm từng loại hàng và từng chặng: đường bộ phục vụ kết nối đầu và cuối; đường sắt phù hợp với hàng khối lượng lớn, vận chuyển đường dài; đường biển phục vụ vận tải hàng xuất nhập khẩu; đường thủy phù hợp với hàng khối lượng lớn, chi phí thấp; hàng không đáp ứng nhu cầu vận chuyển nhanh và hàng hóa có giá trị cao.
Doanh nghiệp cần quản trị tổng chi phí logistics
Theo Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), doanh nghiệp cần chuyển từ việc chỉ so sánh cước vận chuyển từng chặng sang quản trị tổng chi phí đưa hàng hóa từ nơi sản xuất đến thị trường tiêu thụ.
Các giải pháp thiết thực gồm chuẩn hóa dữ liệu đơn hàng, dự báo sản lượng, tối ưu bao bì và hệ số chất xếp, kiểm soát tồn kho, lựa chọn điều kiện giao hàng phù hợp và chủ động phương án tuyến vận chuyển thay thế.
Đối với doanh nghiệp logistics, yêu cầu đặt ra là tăng cường liên kết, phát triển dịch vụ tích hợp, nâng cao năng lực vận tải đa phương thức và logistics lạnh nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của chuỗi cung ứng.
Ở cấp độ quản lý, việc xây dựng hệ thống đo lường chi phí logistics quốc gia với phương pháp thống nhất, nguồn dữ liệu rõ ràng và kỳ công bố định kỳ sẽ giúp đánh giá chính xác hơn chi phí theo ngành hàng, hành lang vận tải và loại hình doanh nghiệp.
Đối với các địa phương, quy hoạch giao thông, thương mại, logistics và phát triển vùng cần được tính toán trong cùng một không gian kết nối. Việc phối hợp với các tỉnh, thành lân cận ngay từ khâu xác định vị trí và chức năng trung tâm logistics sẽ góp phần hạn chế đầu tư trùng lặp, nâng cao hiệu quả khai thác hạ tầng.
Nâng cao năng lực logistics không chỉ là đầu tư thêm hạ tầng, mà quan trọng hơn là kết nối hiệu quả các mắt xích trong chuỗi cung ứng. Khi các phương thức vận tải được phối hợp hợp lý, dữ liệu được quản lý đồng bộ và các trung tâm logistics phát huy đúng chức năng, doanh nghiệp sẽ có thêm lựa chọn vận chuyển, giảm chi phí phát sinh và nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.
Nguồn: Tạp chí Kinh tế – Tài chính,